Ung thư thực quản

Thực quản là một ống tiêu hoá chứa thức ăn và các chất lỏng đi từ họng xuống dạ dày. Các tuyến của thực quản chế tiết ra các chất nhầy giúp làm ẩm đường dẫn thức ăn và thức ăn có thể đi xuống dạ dày dễ dàng hơn. Thực quản nằm ngay sau đường dẫn khí hay còn gọi khí quản, ở người trưởng thành thực quản dài khoảng 25cm.

Ung thư xuất phát từ thực quản bao gồm hai loại chính là ung thư biểu mô vảy và ung thư biểu mô tuyến tuỳ thuộc vào loại tế bào ung thư. Ung thư biểu mô vẩy xuất phát từ tế bào dạng biểu bì ở thành thực quản và thường xuất phát ở phần trên và giữa thực quản. Ung thư biểu mô tuyến thường phát triển từ tổ chức tuyến ở phần dưới thực quản. Phác đồ điều trị gần giống nhau ở cả hai loại ung thư thực quản.

Ung thư thực quản

Thực quản là một ống tiêu hoá chứa thức ăn và các chất lỏng đi từ họng xuống dạ dày. Các tuyến của thực quản chế tiết ra các chất nhầy giúp làm ẩm đường dẫn thức ăn và thức ăn có thể đi xuống dạ dày dễ dàng hơn. Thực quản nằm ngay sau đường dẫn khí hay còn gọi khí quản, ở người trưởng thành thực quản dài khoảng 25cm.

Ung thư xuất phát từ thực quản bao gồm hai loại chính là ung thư biểu mô vảy và ung thư biểu mô tuyến tuỳ thuộc vào loại tế bào ung thư. Ung thư biểu mô vẩy xuất phát từ tế bào dạng biểu bì ở thành thực quản và thường xuất phát ở phần trên và giữa thực quản. Ung thư biểu mô tuyến thường phát triển từ tổ chức tuyến ở phần dưới thực quản. Phác đồ điều trị gần giống nhau ở cả hai loại ung thư thực quản.

Khi khối u lan tràn ra ngoài thực quản, đầu tiên nó thường đi đến hệ bạch huyết (hạch bạch huyết thường nhỏ, có cấu trúc bờ rõ và là một phần của hệ miễn dịch cơ thể). Ung thư thực quản cũng có thể xâm lấn ra hầu hết các bộ phận khác của cơ thể bao gồm: gan, phổi, não, xương…

Các yếu tố nguy cơ ung thư thực quản

Yếu tố gây bệnh chính xác của ung thư thực quản hiện nay chưa rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản:

Tuổi: Ung thư thực quản thường gặp ở những bệnh nhân lớn tuổi, phần lớn các bệnh nhân mắc bệnh ở tuổi trên 60.

Giới: Thường gặp ở nam hơn ở nữ.

Thuốc lá: Hút thuốc lá hoặc các chế phẩm có thuốc lá là nguy cơ chủ yếu gây ung thư thực quản.

Rượu: Những người nghiện rượu hoặc uống rượu thường xuyên có nguy cơ cao bị ung thư thực quản, nguy cơ này đặc biệt cao ở những người sử dung cả rượu và thuốc lá. Các nhà khoa học tin rằng những chế phẩm này làm tăng các tác dụng có hại của nhau trong quá trình gây ung thư thực quản.

Bệnh viêm thực quản Barrett: Loét thực quản kéo dài làm tăng nguy cơ bị ung thư thực quản.Tổ chức ở đáy thực quản có thể bị hoại tử nếu dịch vị dạ dày thường xuyên bị trào ngược lên thực quản hay gặp trong bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Các tế bào ở thực quản thay đổi nhiều và bắt đầu trở nên giống các tế bào ở dạ dày, đây là một tổn thương tiền ung thư và có thể phát triển thành bệnh ung thư biểu mô tuyến của thực quản.

Các bệnh lý khác gây hoại tử niêm mạc thực quản như nuốt phải chất acide hoặc các chất phụ gia khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản.

Tiền sử bệnh tật: Các bệnh nhân bị các bệnh ung thư vùng đầu mặt cổ có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư thứ hai ở vùng này trong đó có ung thư thực quản.

Tuy nhiên, ở một số người có một hoặc thậm chí vài yếu tố nguy cơ nhưng không bị ung thư thực quản và phần lớn các bệnh nhân ung thư thực quản lại không có bất kì một yếu tố nguy cơ nào.

Xác định các yếu tố làm tăng nguy cơ bị ung thư thực quản là bước đầu tiên để tiến đến dự phòng căn bệnh này. Chúng ta đã biết cách tốt nhất dự phòng căn bệnh này là từ bỏ hoặc không bao giờ hút thuốc lá và sử dụng các chế phẩm có thuốc lá và hạn chế uống rượu ở mức trung bình. Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các khả năng làm giảm nguy cơ bị ung thư thực quản bằng cách thay đổi chế độ ăn tăng lượng rau và hoa quả ăn vào hàng ngày.

Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục nghiên cứu phương pháp làm giảm nguy cơ bị ung thư thực quản đối với các bệnh nhân bị bệnh Barrett thực quản.

Phương pháp tốt nhất là từ bỏ hoặc không bao giờ bắt đầu sử dụng thuốc lá và hạn chế sử dụng rượu

Các dấu hiệu nhận biết ung thư thực quản

Ở giai đoạn sớm, ung thư thực quản thường không có biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên khi khối u phát triển, có thể xuất hiện các triệu chứng:

+ Nuốt đau, nuốt khó.

+ Gầy sút cân nhiều

+ Đau họng hoặc lưng, phía sau xương ức hoặc hai xương bả vai.

+ Rát họng hoặc ho kéo dài.

+ Nôn

+ Ho ra máu

Các triệu chứng này có thể do ung thư thực quản gây ra hoặc do một căn bệnh khác. Với các triệu chứng này, cần phải đến bác sỹ kiểm tra.

Chẩn đoán ung thư thực quản

Để tìm ra nguồn gốc của các triệu chứng, các bác sỹ cần khai thác kỹ tiền sử bệnh tật của bệnh nhân và tiến hành khám lâm sàng một cách kỹ càng. Bác sỹ thường cho làm các xét nghiệm:

Chụp thực quản có uống thuốc cản quang: Đây là biện pháp chụp Xquang thực quản hàng loạt. Bệnh nhân sẽ uống một chất lỏng cản quang, chất cản quang này sẽ bám vào mặt trong của thực quản và cho thấy bất kỳ hình ảnh bất thường nào về hình dạng của thực quản trên phim chụp Xquang.

Nội soi thực quản: là phương pháp dùng một ống mỏng có đèn sáng gọi là ống nội soi. Một chất gây tê (chế phẩm làm mất cảm giác của bệnh nhân) thường được sử dụng trong suốt quá trình soi. Nếu có nghi ngờ vùng bất thường của thực quản, các bác sỹ có thể lấy bệnh phẩm tế bào và mô bệnh học qua nội soi để nghiên cứu dưới kính hiển vi điện tử, quy trình này được gọi là làm giải phẫu bệnh. Qua giải phẫu bệnh có thể nhìn thấy tổ chức ung thư hoặc các bất thường của tổ chức dẫn đến ung thư hoặc các tổn thương khác.

Đánh giá giai đoạn của ung thư thực quản

Khi đã được chẩn đoán là ung thư thực quản, bác sỹ cần phải biết đánh giá giai đoạn của ung thư hay còn gọi là mức độ lan tràn của khối u. Đánh giá giai đoạn là bước cố gắng để tìm ra xem khối u đã xâm lấn hay chưa và đã xâm lấn đến bộ phận nào của cơ thể. Biết được giai đoạn của bệnh sẽ giúp các thầy thuốc lập kế hoạch điều trị. Dưới đây mô tả 4 giai đoạn của ung thư thực quản:

– Giai đoạn 1: Ung thư chỉ nằm ở lớp trên cùng của thành thực quản.

– Giai đoạn 2: Ung thư lan đến lớp sâu hơn của thành thực quản hoặc xâm lấn đễn tổ chức bạch huyết lân cận.Ung thư chưa xâm lấn đến các bộ phận khác của cơ thể.

– Giai đoạn 3: Ung thư xâm lấn lớp sâu hơn của thành thực quản hoặc xâm lấn tổ chức hoặc hạch bạch huyết trong vùng cạnh thực quản.

– Giai đoạn 4: Ung thư xâm lấn các bộ phận khác của cơ thể. Ung thư có thể lan đến mọi vị trí bao gồm: gan, phổi não xương. Một số các xét nghiệm giúp xác định sự xâm lấn của ung thư bao gồm:

Chụp cắt lớp vi tính (C.T. Scanner): một máy tính được nối với máy chụp Xquang cho ra hàng loạt các chi tiết về các bộ phận bên trong cơ thể.

Xạ hình xương: Với kỹ thuật này, hình ảnh của xương được tái tạo lại trên màn hình máy tính và trên phim chụp giúp chẩn đoán xem khối u đã di căn xương hay chưa. Một lượng nhỏ hoạt chất có hoạt tính phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch., chất này sẽ đI theo bộ máy tuần hoàn đến tập trung chủ yếu vào xương đặc biệt vùng xương phát triển bất thường. Một dụng cụ đo hoạt tính phóng xạ vùng này giúp xác định di căn xương.

Nội soi phế quản: Sử dụng một ống soi phế quản mềm và có đèn chiếu qua đường miệng hoặc mũi của bệnh nhân đi xuống qua đường dẫn khí để đánh giá các tổn thương của đường hô hấp.

ĐIều trị

Điều trị ung thư thực quản phụ thuộc một số yếu tố bao gồm kích thước, vị trí, sự lan tràn khối u và tình trạng chung của bệnh nhân. Bệnh nhân thường được điều trị một nhóm các bác sỹ gồm nhiều chuyên ngành khác nhau như bác sỹ chuyên khoa tiêu hoá (chuyên điều trị các bệnh tiêu hoá), các phẫu thuật viên (chuyên cắt bỏ hoặc sửa chữa các bộ phận của cơ thể), bác sỹ nội khoa ung thư, các bác sỹ xạ trị ung thư.

Điều trị ung thư thường gây tình trạng tăng cảm răng miệng và nhiễm khuẩn do đó bác sỹ thường khuyên bệnh nhân đến gặp nha sỹ khám và điều trị các bệnh răng miệng trước điều trị.

Có nhiều nhiều biện pháp được sử dụng nhằm kiểm soát ung thư, giảm các triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Phẫu thuật: Là biện pháp điều trị chủ yếu ung thư thực quản. Thông thường khối u được lấy cùng với một phần hoặc toàn bộ thực quản, tổ chức bạch huyết kế cận và các tổ chức khác trong vùng. Sau đó phần còn lại của thực quản sẽ được nối với dạ dày giúp bệnh nhân vẫn tiếp tục nuốt như bình thường. Trong một số trường hợp đoạn nối có thể được tạo bởi một đoạn ruột non hoặc một ống nhựa. Phẫu thuật viên có thể mở rộng đoạn nối giữa dạ dày và rột non giúp thức ăn đi xuống dạ dày dễ dàng hơn. Phẫu thuật có thể được thực hiện sau các biện pháp điều trị khác.

Xạ trị: là biện pháp sử dụng nguồn tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị chỉ ảnh hưởng đến các tế bào trong vùng điều trị. Tia phát ra có thể xuất phát từ máy xạ trị (xạ ngoài), hoặc từ hoạt chất có hoạt tính phóng xạ được đặt vào khối u (xạ trong). Một ống nhựa được đặt vào thực quản giúp thực quản luôn mở. Xạ trị có thể được điều trị đươn thuần hoặc kết hợp hoá chất như một biện pháp điều trị khởi đầu thay cho phẫu thuật đặc biệt khi khối u lớn và ở vị trí khó khăn cho phẫu thuật. Thậm chí cả khi khối u không thể lấy bỏ được bằng phẫu thuật hoặc xạ trị thì điều trị tia xạ có thể giúp giảm đau và giúp bệnh nhân nuốt dễ dàng hơn.

Hoá trị liệu là biện pháp sử dụng các hoá chất kháng u để tiêu diệt tế bào ung thư. Các hoá chất thường được sử dụng bằng đường tĩnh mạch và sẽ lưu thông khắp cơ thể. Hoá chất có thể kết hợp xạ trị như biện pháp điều trị khởi đầu thay cho phẫu thuật hoặc nhằm làm giảm kích thước u trước phẫu thuật.

Điều trị Laser: Sử dụng ánh sáng năng lượng cao tiêu diệt tế bào ung thư. Laser liệu pháp chỉ ảnh hưởng đến các tế bào trong vùng điều trị và được sử dụng nhằm phá huỷ tổ chức ung thư và giải phóng vùng tắc nghẽn của ung thư thực quản giúp làm giảm triệu chứng khó nuốt.

Điều trị quang động học: Sử dụng một số thuốc được hấp thụ chủ yếu bởi tế bào ung thư. Khi các tế bào này được chiếu dưới ánh sáng đặc biệt, các thuốc sẽ trở nên có hoạt tính và có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể sử dụng liệu pháp quang động học giúp giảm các triệu chứng khó nuốt của ung thư thực quản.

Bệnh nhân có thể lựa chọn các biện pháp mới điều trị ung thư thực quản. Trong một số nghiên cứu, toàn bộ bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới, trong một số nghiên cứu khác, một nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới, một nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp thông thường (điều trị chuẩn), các bác sỹ sẽ so sánh hiệu quả các biện pháp điều trị và đưa ra biện pháp điều trị hiệu quả nhất.

Tác dụng phụ của điều trị

Thường khác nhau tuỳ thuộc loại thuốc và từng bệnh nhân. Các bác sỹ, y tá sẽ giải thích về các tác dụng phụ và đưa ra các biện pháp giúp làm giảm các triệu chứng này.

Phẫu thuật ung thư thực quản: Gây đau và tăng cảm giác vùng phẫu thuật trong một thời gian ngắn và có thể kiểm soát được bằng một số thuốc. Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn các bài tập thở và ho đặc biệt để giúp làm sạch phổi.

Xạ trị: Có thể ảnh hưởng đến tế bào lành và tế bào ung thư. Tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc vào vùng điều trị và liều điều trị. Thường gặp các triệu chứng khô, đau họng, miệng, khó nuốt, sưng đau lợi, mệt mỏi và thay đổi vùng da điều trị. Bệnh nhân có thể mất cảm giác ăn ngon miệng.

Hoá chất: Cũng giống điều trị tia xạ, hoá chất có thể ảnh hưởng đến cơ quan bình thường hoặc các cơ quan bị ung thư. Tác dụng phụ chủ yếu phụ thuộc vào thuốc điều trị và liều lượng sử dụng. Có thể gặp các triệu chứng: buồn nôn, nôn, giảm cảm giác ngon miệng, rụng tóc, đỏ da, ban đỏ, đau môi và họng miệng. Các triệu chứng này hết dần trong quá trình hồi phục giữa các đợt điều trị hoặc sau khi điều trị kết thúc.

Điều trị Laser: Có thể gây đau trong một thời gian ngắn khi điều trị nhưng có thể kiểm soát được bằng thuốc.

Điều trị quang động học: Có thể làm da và mắt tăng nhạy cảm với ánh sáng sau 6 tuần điều trị hoặc lâu hơn. Các tác dụng phụ khác có thể bao gồm: ho, khó nuốt, đau bụng, đau khi thở, hoặc cảm giác hụt hơi.
Các bác sỹ, y tá sẽ giải thích về các tác dụng phụ và đưa ra các biện pháp giúp làm giảm các triệu chứng này.

Dinh dưỡng đối với bệnh nhân ung thư

Ăn uống tốt trong suốt quá trình điều trị có nghĩa là đảm bảo đầy đủ calo và protein giúp duy trì cân nặng và đảm bảo sức khoẻ, ăn uống tốt giúp bệnh nhân cảm giác thoải mái và khoẻ mạnh hơn.

Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân ung thư thực quản do có khó khăn về nuốt, cảm giác mệt mỏi và không thoải mái nên ăn uống không ngon miệng. Ngoài ra, các tác dụng phụ điều trị như ăn kém ngon, buồn nôn, nôn, khô đau miệng sẽ làm cho bệnh nhân khó ăn. Thức ăn lúc này có mùi vị khác.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể được nuôi dưỡng trực tiếp bằng đường tĩnh mạch (truyền TM), hoặc nuôi dưỡng qua một ống thông bằng nhựa được đặt qua mũi hoặc miệng xuống dạ dày cho tới lúc họ có thể tự ăn uống được.

Bệnh nhân ung thư thực quản thường được khuyến khích cho ăn nhiều bữa nhỏ và nhẹ hơn là ăn ba bữa chính như bình thường. Khi nuốt khó bệnh nhân vẫn có thể cố gắng nuốt thức ăn mềm, được làm mềm với nước canh hoặc được xay nhỏ. Các bác sỹ, chuyên gia dinh dưỡng giúp bạn các lời khuyên về ăn uống giữ gìn cơ thể khoẻ mạnh.

Theo dõi sau điều trị ung thư thực quản là rất quan trọng đảm bảo phát hiện kịp thời các dấu hiệu bất thường. Nếu khối u tái phát, tiến triển hoặc xuất hiện khối u mới, bệnh nhân cần được điều trị càng sớm càng tốt. Theo dõi sau điều trị bao gồm: khám lâm sàng, chụp Xquang, hoặc làm các xét nghiệm. Trong thời gian giữa các cuộc hẹn, bệnh nhân cần phải thông báo đầy đủ các triệu chứng bất thường cho bác sỹ càng sớm càng tốt ngay sau khi chúng xuất hiện.

XEM THÊM BÀI VIẾT KHÁC CÙNG CHỦ ĐỀ:

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *