SỐ LIỆU THỰC TẾ VỀ UNG THƯ TUYẾN GIÁP

?Ai bị kết luận Ung thư tuyến giáp đề băn khoăn câu hỏi: Bệnh mình có nhiều người mắc không? Có chữa khỏi được không? Tiên lượng sống như thế nào? Điều trị như thế nào?

 

 

➡️➡️➡️Dưới đây là một số thông tin phần nào giải đáp các câu hỏi trên.

?????????

  1. Ung thư tuyến giáp là ung thư gia tăng số lượng nhanh nhất ở cả nữ giới và nam giới, là ung thư nội tiết phổ biến nhất. Ung thư tuyến giáp là một khối u ung thư hoặc phát triển nằm trong tuyến giáp.
  2. Ung thư tuyến giáp xảy ra ở mọi độ tuổi từ trẻ nhỏ đến người già. Hiện tại ung thư tuyến giáp là loại ung thư phổ biến thứ 5 xảy ra đối với nữ giới.
  3. Hiệp hội chống ung thư Hoa Kỳ ước tính rằng có khoảng 62980 ca ung thư tuyến giáp mới ở Mỹ trong năm 2014. Trong các ca mới này, khoảng 47790 trường hợp là nữ giới và khoảng 15190 trường hợp là nam giới. Khoảng 1890 người (bao gồm 1060 nữ và 830 nam) sẽ chết vì ung thư tuyến giáp năm 2014 (số bệnh nhân tử vong bao gồm cả mới phát hiện và đã phát hiện trước đó).
  4. Nhiều bệnh nhân, đặc biệt ở giai đoạn sớm của ung thư tuyến giáp, không gặp triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi ung thư phát triển, triệu chứng có thể có một hạch nhỏ hoặc cục tròn nhỏ ở phía trước cổ, khàn giọng, khó nói, sưng hạch bạch huyết, khó nuốt hoặc khó thở và đau ở cổ họng hoặc cổ.

Có một vài thể Ung thư tuyến giáp: thể nang (follicular), thể nhú (papillary), thể tủy, không biệt hóa (anaplastic) và các biến thể khác.

 

 

  • Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang và thể nhú là loại ung thư tuyến giáp biệt hóa và chiếm đến 80-90% trong các bệnh ung thư tuyến giáp. Các biến thể bao gồm tế bào cao, dạng đảo, dạng hình trụ và tế bào Hurthle. Việc điều trị và kiểm soát chúng là tương tự nhau. Nếu phát hiện sớm, hầu hết các loại ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang và thể nhú có thể được điều trị thành công.
  • Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy (MTC) chiếm khoảng 5-10% trong các bệnh ung thư tuyến giáp. Ung thư thể tủy sẽ dễ điều trị và kiểm soát hơn nếu phát hiện trước khi nó lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể. Có hai loại ung thư tuyến giáp thể tủy: rời rạc và gia đình. Xét nghiệm di truyền (RET proto-oncogene) nên được thực hiện đối với tất cả các bệnh nhân mắc MTC để xác định xem liệu có sự thay đổi di truyền hay không để dự đoán sự phát triển của MTC. Với những cá nhân có sự thay đổi di truyền, loại bỏ tuyến giáp trong khi còn nhỏ tuổi có xác suất chữa bệnh cao.
  • Ung thư biểu mô tuyến giáp không biệt hóa là loại ít phổ biến nhất, chỉ chiếm từ 1-2 % trong các bệnh ung thư tuyến giáp. Loại này khó kiểm soát và điều trị bởi nó là loại rất mạnh của bệnh ung thư tuyến giáp.

——————

  1. Điều trị ung thư tuyến giáp bao gồm phẫu thuật, điều trị i-ốt phóng xạ, liệu pháp bức xạ tia bên ngoài và hóa trị liệu. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật để loại bỏ toàn bộ tuyến giáp và được điều trị bằng liệu pháp thay thế hóc môn tuyến giáp. Đối với những ca mắc ung thư tuyến giáp thể nang và thể nhú, liều thay thế hóc môn tuyến giáp thường đủ cao để ngăn chặn hóc môn kích thích tuyến giáp (TSH) dưới mức bình thường của người không bị chẩn đoán ung thư tuyến giáp, để ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư trong khi cung cấp hóc môn tuyến giáp cần thiết cho cơ thể.
  2. Các yếu tố liên quan với ung thư tuyến giáp bao gồm tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư tuyến giáp, giới tính (phụ nữ có tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn), độ tuổi (đa số các trường hợp mắc phải ở độ tuổi trên 40, mặc dù ung thư tuyến giáp xảy ra tất cả các độ tuổi từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi), và việc tiếp xúc trước của tuyến giáp với bức xạ.
  3. Trong khi tiên lượng đối với hầu hết các bệnh nhân ung thư tuyến giáp là tốt, tỷ lệ tái phát có thể lên đến 30%, và tái phát xảy ra thậm trí hàng chục năm sau chẩn đoán ban đầu. Do đó, quan trọng là bệnh nhân phải thực hiện kiểm tra sau đó thường xuyên để phát hiện liệu ung thư có tái phát. Việc kiểm soát phải duy trì thực hiện trong suốt cuộc đời.
  4. Thăm khám định kỳ sau đó có thể bao gồm việc xem lại lịch sử điều trị cùng với xét nghiệm máu phù hợp đối với loại ung thư và giai đoạn điều trị (TSH, thyroglobulin, CEA, và calcitonin), khám lâm sàng và kỹ thuật hình ảnh (siêu âm, quét i-ốt phóng xạ toàn bộ cơ thể, chụp X-quang, CT, MRI, PET, và các xét nghiệm khác).
CHỦ ĐỀ ĐANG XEM:

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *