Sàng lọc phát hiện sớm ung thư tiền liệt tuyến

Tiền liệt tuyến là tuyến ngoại tiết của nam giới. Tuyến năm ở sau bàng quang, nặng khoảng 30gam, bao quanh ống dẫn nước tiểu. Tuyến tiết ra tinh dịch, chất có màu trắng đục như sữa có tác dụng kích thích sự sống động của tinh trùng

1. Đại cương

Tiền liệt tuyến là tuyến ngoại tiết của nam giới. Tuyến năm ở sau bàng quang, nặng khoảng 30gam, bao quanh ống dẫn nước tiểu. Tuyến tiết ra tinh dịch, chất có màu trắng đục như sữa có tác dụng kích thích sự sống động của tinh trùng

Ở Hoa kỳ, ung thư tiền liệt tuyến (TLT) là loại ung thư có tỉ lệ mắc cao nhất ở nam giới không phụ thuộc màu da và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư phổi. Năm 2006 có …trường hợp mới mắc và có …trường hợp tử vong vì căn bệnh này. có tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 2,2/100.000 dân và đứng hàng thư 12 ở nam giới.

Nguyên nhân gây bệnh cho tới nay chư biết rõ. Qua một số bằng chứng về dịch tễ học người ta thấy bệnh có liên quan tới chế độ ăn và di truyền. Nguy cơ mắc bệnh tăng lên cùng với hàm lượng chất béo trong chế độ ăn. người có cha hoặc an hem ruột mắc ung thư TLT thì có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-4 lần so với người bình thường. Sau tuổi 50 tỉ lệ mắc tăng dần theo tuổi, tỉ lệ mắc ở người Mỹ gốc phi cũng cao hơn. Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ mắc ung thư TLT tăng khoảng 6%/ năm.

Khi ung thư xâm lấn phá vỡ vỏ bao cũng ít gây ra các triệu chứng do đó khoảng 1/3 đén 2/3 các trường hợp ung thư TLT được chẩn đoán khi tổn thương đã phá vỡ vỏ hoặc di căn xa.

Tỉ lệ sống thêm 10 năm cho ung thư chưa phá vỡ vỏ bao là 75%, khi ung thư đã xâm lấn tại vùng thì tỉ lệ này là 55%, còn khi ung thư đã di căn xa thì sống thêm 10 năm chỉ còn lại 15%.

Các biến chứng xảy ra khi ung thư tiến triển đó là tắc đường tiểu, đau xương, và các di chứng của các cơ quan khi bị di căn ung thư.

2. Sàng lọc ung thư TLT

Nguyên tắc sàng lọc ung thư TLT đó là chụp cắt lớp vi tính vùng trực tràng, xét nghiệm chất chỉ điểm khối u PSA và siêu âm nội trực tràng. Tiêu chuẩn để xác định bệnh là chẩn đoán mô bệnh học qua phẫu thuật hoặc sinh thiết.

Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm sàng lọc ung thư TLT không thể xác định một cách chắc chắn bởi vì những bệnh nhân có test sàng lọc âm tính thì không được sinh thiết. Âm tính giả không thể nhận biết được trừ khi làm sinh thiết vì lý do khác.

2.1.Chụp cắt lớp vi tính vùng trực tràng:

Đây là xét nghiệm sàng lọc kinh điển đối với ung thư TLT. Độ nhạy của nó hạn chế tuy nhiên vẫn đựoc áp dụng vì thăm khám trực tràng bằng tay chỉ sờ đựoc phía sau và hai thuỳ của tuyến. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có tới 25%-35% khối u TLT không thể phát hiện qua thăm khám bằng tay.

Chụp cắt lớp vi tính vùng trực tràng có thể phát hiện được 55%-68% ung thư TLT giai đoạn A, khi chưa có triệu chứng. Tuy nhiên xét nghiệm này có độ đặc hiệu hạn chế vì tỉ lệ dương tính giả cao.

2.2.Chất chỉ điểm khối u:

– PSA tăng có ý nghĩa trong sàng lọc ung thư TLT. Trong nghiên cứu sàng lọc ung thư TLT bằng PSA, kết quả cho thấy giá trị PSA tăng trên 4ng/dL có tới trên 80% trường hợp ung thư TLT được phát hiện khi chưa có triệu chứng lâm sàng mặc dù độ nhạy thấp chỉ 29%. Nồng độ của PSA liên quan tới kích thước của khối u, khối u càng lớn nồng độ PSA càng tăng. Các nghiên cứu cũng cho thấy qua sang lọc ung thư TLT bằng PSA thì một tỉ lệ lớn ung thư tiềm tàng được phát hiện.

Người ta thấy rằng ung thư TLT là bệnh tiến triển chậm trong nhiều năm do đó nhiều trường hợp tử vong vì các nguyên nhân khác khi bệnh ung thư TLT còn ở giai đoạn sớm. Các nghiên cứu ung thư TLT qua các trường hợp mổ tử thi cho thấy rằng có tới 30% các trường hợp trên 50 tuổi mắc ung thư TLT trong đó ở lứa tuổi 50-59 chiếm 10%-42%, lứa tuổi 60- 69 là 17%-38%, tử 70-79 tuổi là 25%-66% và trên 80 tuổi là 18%-100%.

Sàng lọc ung thư TLT bằng test PSA phát hiện được tỉ lệ mắc ung thư tiềm tàng mà được phát hiện bằng mổ tử thi. Như vậy sàng lọc có tác dụng phát hiện ung thư TLT và điều trị có hiệu quả.

– Phosphatase acid có độ nhạy thấp hơn khoảng 12% -20% cho giai đoạn A và B.

2.3. Siêu âm qua đường trực tràng

Là biện pháp thứ 3 trong sàng lọc ung thư TLT. Phần lớn các nghiên cứu cho thấy độ nhạy của phương pháp là phát hiện được từ 57%-68% các trưòng hợp ung thư TLT khi chưa có triệu chứng lâm sàng. Do siêu âm nội trực tràng không thể phân biệt được khối u lành tính hay ác tính nên giá trị dự báo dương tính của phương pháp này thấp hơn xét nghiệm PSA.

Cho tới nay chưa có bằng chứng về kết quả sàng lọc ung thư TLT làm giảm biến chứng và tỉ lệ tử vong

3. Hiệu quả của phát hiện sớm

Phát hiện sớm ung thư TLT có thể chữa khỏi bệnh, giảm chi phí điều trị, giảm biến chứng do điều trị.

Điều trị ung thư TLT giai đoạn muộn thương khó khăn hơn do khối u đã xâm lấn ra xung quanh hoặc di căn xa. người bệnh phải trải qua các biện pháp điều trị nặng nề như xạ trị vào vùng chậu có thể gây ra nhiều biến chứng. Mặt khác chi phí cho điều trị tốn kém, thời gian sống thêm ngắn.

4..Chẩn đoán

Khám lâm sàng: Thăm khám trực tràng bằng tay có thể phát hiện khối u TLT bởi vì thăm khám bằng tay có thể sờ phía sau của tuyến mà vùng này chiếm tới 75% thể tích của tuyến.

Xét nghiệm:

– Chụp cắt lớp vi tính vùng chậu phát hiện các tổn thương ở vùng này bao gồm cả các tổn thương ngoài tiền liệt tuyến, các hạch di căn.

– Chất chỉ điểm khối u PSA

– Chụp xạ hình xương

– Siêu âm nội trực tràng

– Sinh thiết khối u để chẩn đoán mô bệnh học

5. Điều trị

– Điều trị ung thư TLT dựa vào mức độ xâm lấn của khối u, tuổi, thể trạng chung của người bệnh.

– Giai đoạn sớm điều trị bằng phẫu thuật hoặc xạ trị.

– Giai đoạn muộn đã có di căn thì điều trị bằng nội tiết kết hợp xạ trị tại chỗ.

– Hoá chất được áp dụng cho những bệnh nhân đã thất bại với liệu pháp nội tiết.

CHỦ ĐỀ ĐANG XEM:

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *